(Ngày Nay) -Không chỉ là nhà hóa học, nhà kỹ nghệ, nhà sản xuất vũ khí, mà ông còn là chủ nhân của hơn 350 bằng phát minh, trong đó có thuốc nổ. Vậy ông là ai?
Quảng trường Ba Đình lịch sử do ai đặt tên? Ăn chay giảm cân - đúng hay sai? Đèo Ngang thuộc địa phận 2 tỉnh thành nào?
*

icon

Albert Einstein

icon

J. Robert Oppenheimer

icon

Alfred Bernhard Nobel

Giải thích Thuốc nổ dynamite là phát minh nổi bật nhất trong số 350 bằng phát minh của Alfred Bernhard Nobel.

Bạn đang xem: Người phát minh ra thuốc nổ


*

icon

Thụy Điển

icon

Hà Lan

icon

Đan Mạch

Giải thích Alfred Bernhard Nobel (1833-1896) là nhà hóa học, nhà kỹ nghệ, nhà sản xuất vũ khí và một triệu phú người Thụy Điển.

Xem thêm: Thời Gian Khai Mạc World Cup 2018 : Ngày Hội Của Cả Hành Tinh


*

icon

7 tuổi

icon

17 tuổi

icon

27 tuổi

Giải thích Alfred Nobel thành thạo tiếng Thuỵ Điển, Nga, Pháp, Anh và Đức. Sở thích chính của cậu là thơ, văn học Anh, vật lý và hóa học. Cha ông lại chỉ mong con trai trở thành kỹ sư để nối nghiệp kinh doanh. Để mở rộng tầm hiểu biết của con, Immanuel Nobel gửi Alfred ra nước ngoài học thêm lĩnh vực hóa học. Tại Paris, khoảng năm 17 tuổi, Nobel gặp gỡ với nhà hóa học trẻ người Italy, Ascanio Sobrero, người ba năm trước đó đã phát minh ra nitroglycerine, một chất lỏng dễ nổ. Rất quan tâm đến nitroglycerine và phương pháp ứng dụng nó vào công trình xây dựng, Nobel đồng thời cũng nhận ra phải giải quyết vấn đề an toàn và tìm ra cách kiểm soát hiệu quả quá trình nổ của nó. Năm 1852, vì công việc kinh doanh của gia đình phất lên nhanh do bán hàng cho quân đội Nga, Nobel được triệu về nhà. Cùng với cha, ông tiến hành các thí nghiệm để phát triển nitroglycerine thành chất nổ có ích trong kỹ thuật và thương mại.


*

4 Khi nào thì Alfred Nobel tập trung phát triển chất nổ nitroglycerine?


icon

Năm 1853

icon

Năm 1863

icon

Năm 1873

Giải thích Về Thuỵ Điển năm 1863, Alfred Nobel tập trung phát triển chất nổ nitroglycerine. (Ảnh minh họa)


*

5 Tai nạn lớn nhất trong quá trình phát triển chất nổ của Alfred Nobel là gì?


icon

Sập nhà

icon

Chết người

icon

Cả 2 đáp án trên

Giải thích Một vài tai nạn xảy ra, trong đó có vụ nổ năm 1864 giết chết người anh trai Emil và một vài người khác, khiến các quan chức thành phố Stockholm cho rằng chế tạo chất này quá nguy hiểm. Các thí nghiệm về nitroglycerine bị cấm và Alfred phải đưa phòng thí nghiệm xuống một chiếc xuồng trên hồ Malaren. (Ảnh minh họa)


6 Để nitroglycerin trở nên an toàn hơn, Nobel đã trộn với...


icon

Silic Dioxide

icon

Trinitrotoluene

icon

Aziroazide Azide

Giải thích Năm 1864, Nobel bắt đầu sản xuất nitroglycerin trên quy mô lớn. Để làm cho chất này an toàn hơn, ông đã thí nghiệm với nhiều chất phụ gia và nhanh chóng nhận ra rằng nitroglycerine trộn với silic dioxide sẽ biến thành một dạng bột nhão, có thể nặn thành thỏi và các dạng khác dễ nhồi vào lỗ khoét sẵn. Năm 1867, Nobel đăng ký bản quyền sáng chế cho vật liệu này dưới tên dynamite. Để có thể kích hoạt các thỏi thuốc nổ, ông cũng tìm cách tạo ra ngòi cho chúng. Thị trường dynamite và ngòi nổ tăng rất nhanh. Nobel cũng tự học hỏi không ngừng, trở thành nhà kinh doanh tài ba. Năm 1865, nhà máy của ông tại Krummel, gần Hamburg, Đức đã xuất khẩu chất nổ tới các quốc gia châu Âu, châu Mỹ và châu Á. Trong những năm sau đó, Nobel thành lập các nhà máy và phòng thí nghiệm ở hơn 90 điểm tại hơn 20 quốc gia. Ông tập trung phát triển công nghệ chất nổ cũng như phát minh ra nhiều vật liệu hóa học khác, trong đó cao su và da tổng hợp, tơ nhân tạo...


icon

Năm 1900

icon

Năm 1901

icon

Năm 1902


icon

N

icon

Nb

icon

No

Giải thích Để ghi nhớ công lao của Nobel cho khoa học, chính phủ Thụy Điển đã thành lập một viện nghiên cứu khoa học mang tên ông. Năm 1957, một nhóm nhà vật lý đã phát minh ra một nguyên tố nhân tạo, được xếp vào ô thứ 102 của bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học với tên gọi Nobeli. Nobeli là nguyên tố tổng hợp thuộc nhóm actini có ký hiệu No. Nó được các nhà khoa học thuộc Phòng thí nghiệm phản ứng hạt nhân Flerov, Dubna (Nga) phát hiện vào năm 1966. Có ít thông tin về nguyên tố này, tuy nhiên với các thí nghiệm hạn chế người ta thấy rằng nó tồn tại trạng thái hóa trị 2 ổn định trong dung dịch cũng như dự đoán trạng thái hóa trị 3 liên quan đến vị trí của nó trong nhóm actini.