Điều kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc và cách tính trợ cấp thôi việc là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm hiện nay đặc biệt là đối với những người lao động làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp.

Bạn đang xem: Quyết định trợ cấp thôi việc


Trợ cấp thôi việc chính là khoản tiền mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động khi họ chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động.

Nhưng trên thực tế không phải người lao động nào cũng có thể nhận được khoản tiền này, muốn nhận được thì cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Vậy điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc mới nhất 2021 là gì, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua nội dung bài viết dưới đây.

Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc?

Căn cứ theo quy định tại Điều 46 Bộ luật lao động thì người người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên trong các trường hợp sau:

– Hết hạn hợp đồng lao động;

– Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

– Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động;

– Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án;

– Người lao động chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết;

– Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

– Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 Bộ Luật lao động;

– Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ Luật lao động. 

Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định như đã nêu ở trên thì người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc.

*

Cách tính trợ cấp thôi việc

Nếu người lao động có đầy đủ các điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc như đã nêu ở trên thì cần lưu ý cách tính trợ cấp thôi việc như sau:

Tiền trợ cấp thôi việc = 1/2 x tiền lương để tính trợ cấp thôi việc x thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc. 

Trong đó:

– Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc chính là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc (Căn cứ theo Khoản 3 Điều 46 của Bộ luật lao động).

– Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc chính là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc (Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP).

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc?

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) và thời gian đã được chỉ trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm. 

– Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế gồm:


+ Thời gian thử việc;

+ Thời gian được người sử dụng lao động cử đi học;

+ Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản;

+ Thời gian nghỉ điều trị, phục hồi chức năng khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương;

+ Thời gian nghỉ để thực hiện nghĩa vụ công mà được người sử dụng lao động trả lương;

+ Thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động;

+ Thời gian nghỉ hằng tuần;

+ Thời gian nghỉ việc hưởng nguyên lương;

+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại điện người lao động;

+ Thời gian bị tạm đình chỉ công việc.

– Thời gian đã tham gia BHTN gồm:

+ Thời gian người lao động đã tham gia BHTN;

+ Thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia BHTN nhưng được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương một khoản tiền tương đương với mức đóng BHTN.

– Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được tính theo năm (đủ 12 tháng) nên các trường hợp lẻ tháng sẽ được làm tròn:

+ Có tháng lẻ ít hoặc bằng 06 tháng được tính bằng 1/2 năm;

+ Trên 06 tháng được tính bằng 01 năm.

Hỏi đáp một số nội dung về lao động liên quan đến bài viết

Câu hỏi:

Tôi là Nguyễn Nam có thắc mắc muốn luật sư tư vấn cho tôi như sau: Tôi là công nhân làm việc cho một doanh nghiệp ở tỉnh Hải Dương theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Nay vì một số lý do cá nhân nên tôi muốn thôi việc và đã báo cho người sử dụng lao động biết trước 30 ngày; sau đó, đúng hạn doanh nghiệp đã ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với tôi. Vậy, xin hỏi luật sư tôi có được trợ cấp thôi việc không? Xin cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, với câu hỏi của bạn Công ty Luật Hoàng Phi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật lao động, cụ thể như sau:


Điều 46. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

Xem thêm: Yoga Giảm Mỡ Bụng Nhanh Nhất Giúp Bạn Lấy Lại Vòng Eo Thon Gọn

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.


Như vậy, theo quy định trên thì người lao động được hưởng trợ cấp thôi việc có căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật lao động và phải đáp ứng điều kiện về thời gian làm việc là làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên.

– Điều 34 Bộ luật lao động có quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:


Điều 34. Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

<…>


– Căn cứ theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật lao động quy định về điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định pháp luật với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn như sau: “Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau: a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn”

 Thứ hai, đối chiếu với vụ việc của bạn, vì không rõ nội dung quyết định thôi việc, có thể chia thành hai trường hợp sau:

– Trường hợp 1: Công ty đồng ý cho bạn nghỉ việc. Việc ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ghi nhận lại nội dung đồng ý hoặc lý do chấm dứt hợp đồng lao động là theo thỏa thuận của hai bên. Do đó, bạn chấm dứt hợp đồng lao động theo trường hợp do hai bên thỏa thuận theo khoản 93Điều 34 Bộ luật lao động. Bạn có thể được hưởng trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng điều kiện về thời gian làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên và có thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc theo Khoản 2 Điều 46 Bộ luật lao động.

– Trường hợp 2: Việc bạn chấm dứt hợp đồng lao động không được công ty đồng ý. Bạn báo trước chưa đủ 45 ngày theo điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật lao động. Vì vậy, bạn thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Việc công ty ra quyết định thôi việc chỉ là ghi nhận lại hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bạn. Nếu là trường hợp này, bạn sẽ không đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thôi việc do bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.